1.2. Rầy nâu

1.2. Rầy nâu

1.2. Rầy nâu

Sadita Thứ Hai, ngày 23/03/2020 19:54 CH (GMT+7) 1748

Rầy nâu hại lúa

Rầy nâu (tên tiếng Anh là Brown Backed Rice Plant Hopper) là một trong vài loài dịch hại nguy hiểm số một trên cây lúa ở nước ta hiện nay. Cả trưởng thành và rầy non đều tập trung ở phần gốc thân cây lúa để hút nhựa, nếu mật số cao có thể gây hiện tượng “cháy rầy”. Ngoài gây hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, một bệnh cực kỳ nguy hiểm cho cây lúa, đã từng gây dịch trên diện rộng ở nước ta cách nay vài năm.

 

Tên khoa học: Nilaparvata lugens Stal.

Họ: Delphacidae

Bộ: Homoptera

 

1. Đặc điểm hình thái

Trứng: đẻ thành từng ổ từ 5 - 12 quả nằm sát nhau, có dạng giống quả chuối tiêu, trứng mới đẻ có màu trong suốt, khi sắp nở thành màu vàng và có hai điểm mắt đỏ.

Trứng rầy nâu

Rầy non: Có 5 tuổi, thân hình tròn. Lúc mới nở có màu xám trắng, sang tuổi 2 - 3 trở lên có màu nâu vàng. Chúng rất linh hoạt.

Rầy nâu trưởng thành: Có 2 dạng cánh là cánh dài và cánh ngắn, con đực nhỏ hơn con cái.

 

2. Đặc điểm sinh thái

Vòng đời của rầy nâu

Vòng đời của rầy nâu là 25 - 30 ngày, trong đó trứng: 6 - 8 ngày, ấu trùng 12 - 15 ngày, rầy trưởng thành là 4 - 5 ngày.

Ban ngày rầy trưởng thành ít hoạt động trên lá lúa, chiều tối bò lên phía trên thân và lá lúa.

Sự xuất hiện rầy dạng cánh dài và cánh ngắn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng.

Khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, thức ăn phong phú thì xuất hiện dạng cánh ngắn nhiều.

Nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, thức ăn không thích hợp thì xuất hiện dạng cánh dài nhiều.

Nếu môi trường bình thường sẽ xuất hiện cánh dài với tỉ lệ đực cái là 1:1, còn trong điều kiện môi trường thuận lợi thì xuất hiện rầy cánh ngắn với tỉ lệ đực cái là 1:3.

Ở miền Nam rầy có thể gây hại liên tục các vụ lúa, còn ở phía Bắc cháy rầy thường sảy ra vào tháng 5 (vụ xuân) và cuối tháng 9 đầu tháng 10 (vụ mùa).

 

3. Đặc điểm gây hại

Con trưởng thành và rầy non đều hút nhựa cây từ dảnh và lá lúa.

Rầy nâu xâm nhập vào ruộng lúa ngay từ khi mới cấy và hại cả trên mạ.

Rầy nâu

Lúa thời kỳ đẻ nhánh: Khi bị nhiễm bệnh thì hình thành các vết màu nâu đậm, nếu bị hại nặng thì làm cho cây vàng còi cọc, khô héo và chết.

Lúa thời kỳ làm đòng, trỗ bông: Khi mật độ rầy tấn công cao sẽ làm cây khô héo, hạt và bông lép đen một phần hoặc cả bông.

Rầy nâu còn có tác hại chủ yếu là truyền lan các loại virut dẫn đến bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa. Bệnh này làm cho lá chuyển màu vàng và cây không phát triển được gây thiệt hại nghiêm trọng.

 

4. Biện pháp phòng trừ rầy nâu hại lúa

4.1. Biện pháp canh tác

Sử dụng giống khỏe, kháng rầy.

Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch lúa chét và cỏ quanh ruộng và ven bờ.

Không gieo sạ quá dày, chỉ nên sạ từ 100 - 120 kg giống/ha (hoặc 70 - 80kg, nếu sạ hàng).

Gieo sạ đồng loạt và tập trung trên từng cánh đồng.

Bón phân cân đối hợp lý giữa phân đạm, kali và phân lân.

Làm cỏ, tỉa, dặm kịp thời để ruộng thông thoáng, hạn chế nơi trú ngụ của rầy.

Thường xuyên theo dõi, kiểm tra đồng ruộng, theo dõi mật độ rầy nâu để kịp thời xử lý.

Không trồng lúa liên tục trong năm, thời gian cách ly giữa hai vụ ít nhất 20 – 30 ngày.

Luôn duy trì mực nước thích hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.

4.2. Biện pháp sinh học

Sử dụng thiên địch là các loài nhện Pardosa pseudoannulata và Araneus inustus.

4.3. Biện pháp hóa học

Giai đoạn lúa đầu vụ

Nếu ruộng đa số là rầy nhỏ tuổi, rầy non mới nở có thể dùng thuốc trừ rầy như Butyl 10WP (pha 20 gram/ bình 8 lít), Butyl 40WDG (pha 4gram thuốc/ bình 8 lít), hoặc Butyl 400SC (pha 4ml thuốc cho bình 8 lít).

Nếu chủ yếu là Rầy trưởng thành hoặc có cả rầy non thì dùng Bascide 50EC, pha 20 - 30ml/ bình 8 lít (hoặc hỗn hợp Butyl với Bascide) rồi phun 5 - 6 bình/ công ruộng.

Giai đoạn lúa phát triển

Nếu ruộng đa số là rầy trưởng thành hoặc có cả rầy trưởng thành và rầy non, thì dùng Dragon 585EC với liều lượng 15 - 20ml với bình 8 lít nước, rồi xịt 4 - 5 bình/ ruộng.

Hoặc có thể pha thêm vào mỗi bình xịt 25 - 30ml dầu khoáng SK-Enspray 99EC để tăng hiệu quả trừ rầy.

Ngoài ra, có thể dùng Bascide 50EC, pha 20 - 30ml/bình 8 lít, phun 5 - 6 bình/ruộng hoặc Mipcide 50WP, pha 20gram/bình 8 lít, phun 4 - 5 bình/ruộng.

Giai đoạn sau khi lúa trổ

Mật độ rầy cao, gồm cả rầy non và rầy trưởng thành nên dùng Actara 25WDG pha 1g/bình 8 lít, phun 25 - 80g/ha, Amira 25WDG pha 1 gói 1g vào bình 8 lít nước,…

4.4. Biện pháp tổng hợp quản lý rầy nâu và bệnh virus trên lúa

- Hạn chế trồng giống nhiễm.

- Gieo sạ đồng loạt (né rầy) theo hướng dẫn của cơ quan chức năng.

- Không sạ, cấy mau (dày).

- Vệ sinh đồng ruộng, không để lúa chét.

- Thả vịt ăn rầy (nếu điều kiện cho phép).

- Nâng mực nước trên ruộng để diệt trứng (nếu có thể).

- Thăm đồng thường xuyên nhất là giai đoạn đầu một tháng sau sạ.

- Chú ý trừ rầy giai đoạn mạ.

- Thường xuyên theo dõi thông báo sâu bệnh trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

- Phun thuốc đặc trị theo hướng dẫn của Cục BVTV như Butyl (Buprofezin) 10WP, 400SC, Bascide (Fenobucarb) 50EC, Schezgold (Pymetrozin) 500WG, Brimgold (Dinotefuran + Imidaclopride) 200WP hoặc Sairifos (Chlorpyrifos + Cypermethrin) 585EC (trường hợp mật số rầy quá cao cần dập dịch tức thời). Chú ý cần phun theo 4 đúng, phun đủ lượng nước thuốc theo khuyến cáo (tối thiểu 2 bình 16 lít/1,000 m2), phun vào gốc nơi rầy sinh sống và gây hại, có thể phun sáng sớm hay chiều mát.

 

5. Lưu ý khi phun thuốc

Không phun thuốc lúc cây lúa đang nở hoa, thụ phấn.

Khi rầy nâu nhỏ mới xuất hiện là thời điểm phun hợp lý nhất.

Nên phun vào chiều mát hoặc sáng sớm là thời điểm rầy bò ra nhiều rầy sẽ chết nhiều hơn.

Trước khi phun nên cho nước ngập ruộng để rầy di chuyển lên cao, dễ trúng thuốc hơn.

Để ý thời gian cách ly 7 - 10 ngày.

Đối với những ruộng lúa tốt nên rẽ lúa thành các băng rộng khoảng 1 – 1,5 m, phun thuốc vào phần thân, gốc cây lúa và giữ mực nước ruộng từ 2 – 3 cm để đạt hiệu quả trừ rầy cao.

[Quay lại bài viết chính]

 

Tag:
Ý kiến bạn đọc

Hãy đăng nhập hoặc tạo tài khoản để gửi bình luận

Gửi

Có thể bạn chưa biết

Những ý nghĩa của cái Tết trong truyền thống Văn hóa Việt Nam

Nói đến Tết, chúng ta thường nghĩ tới một dịp vui đầu năm mới: Tết Nguyên Ðán, ...

21 bức ảnh chứng minh thời gian là thứ đẹp đẽ nhưng vô cùng tàn nhẫn

Có những thứ thật mong manh, có những thứ lại vô cùng bền bỉ dưới tác động của ...

Nhà nông

Cần bảo vệ những người bạn của nông dân trên đồng ruộng

Hiện nay, các quốc gia trồng lúa trên thế giới đều có xu hướng phòng trừ sâu ...

Cách trồng và chăm sóc Sứ Thái Lan

Sứ Thái Lan tuy rất sai hoa,nhưng do ống hoa quá nhỏ gây trở ngại cho côn trùng ...

từ điển

Mù mắt | Isotoma longiflora

Tên khoa học là Isotoma longiflora Presl., Lobelia longifloia Willd., Laurentia ...

Tri mẫu | Anemarrhena asphodeloides

Tên khoa học là Anemarrhena asphodeloides Bunge. Thuộc họ Hành Alliaceae.

giáo trình - tài liệu

Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây ở Việt Nam (ACIAR 2009)

Cuốn cẩm nang này được biên soạn nhằm giúp các nhà nghiên cứu bệnh cây phát ...

Các loài thực vật phụ sinh thuộc họ Cà phê | The tuberous epiphytes of the Rubiaceae

Myrmecodia Jack, a tuberous epiphytic genus of the Psychotrieae, Hydnophytinae, ...