Quản lý độ phì của đất và bón phân theo nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng | Nhà nông Sadita

Quản lý độ phì của đất và bón phân theo nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng | Nhà nông Sadita

Quản lý độ phì của đất và bón phân theo nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng

Sadita Thứ Năm, ngày 09/03/2023 10:15 SA (GMT+7) 278

Dinh dưỡng cây trồng là một yếu tố đóng góp rất quan trọng vào việc tăng năng suất. Cây trồng hấp thu lượng lớn các nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca, Mg, S) và nguyên tố vi lượng (Fe, Mn, B, Cu, Zn, Mo, Cl) từ đất như là nguồn thức ăn trong suốt giai đoạn sinh trưởng của nó.

Các nguyên tố dinh dưỡng này phải hữu dụng trong đất qua nhiều cách khác nhau. Do đó, quản lý độ phì đất có mục tiêu nhằm duy trì mức độ phì nhiêu của đất và ngăn chận sự suy giảm độ phì đất qua nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau, thí dụ như hoàn trả các tàn dư thực vật cho đất (thay vì đốt chúng), sử dụng phân gia súc và phân xanh, điều chỉnh độ chua của đất, tăng cường CEC (khả năng trao đổi cation) của đất, thực hiện đúng đắn cách bón phân và thời gian bón phân để tránh bị rữa trôi phân bón…
 
Như vậy, quản lý độ phì đất phải hướng về mục đích bảo tồn và duy trì sức sản xuất của đất cho một thời gian lâu dài, hay nói khác đi nhằm tăng năng suất sản lượng cây trồng một cách bền vững đồng thời với bảo quản cân bằng sinh
 
 
I. Sự suy giảm độ phì của đất
Độ phì của đất bị suy giảm do các nguyên nhân sau:
 
1. Mất mát dinh dưỡng do thu hoạch cây trồng: Cây hút dinh dưỡng khoáng từ trong đất, nhưng chỉ các bộ phận không thu hoạch (tàn dư thực vật) được để lại trên đồng ruộng trả lại dinh dưỡng cho đất, như là các lá cây rụng trước khi thu hoạch, hệ thống rễ trong đất trừ các cây lấy củ. Còn thường thì ngoài hạt, quả… đã được thu hoạch, phần thân lá cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc hay chất đốt (như rơm, rạ, thân cây bắp, dây đậu phộng, dây khoai lang...) hoặc bị đốt bỏ tại ruộng.
 

Lượng dưỡng chất trong đất và tỷ lệ các dưỡng chất bị các cây trồng lấy đi thay đổi tuỳ theo loại cây trồng, năng suất và bộ phận thu hoạch (Bảng dưới).

(Nguồn: Cooke, 1985 - Tài liệu Phan Liêu, 1997 và Agro. Depart, UPLB,1994)
 
2. Xói mòn đất canh tác: Đất bị xói mòn và rửa trôi cũng mang theo một lượng dinh dưỡng đáng kể. Nguyễn Quang Mỹ (1992) cho biết trên đất xám trồng đậu phộng có độ dốc 300 mất đi 54 tấn đất/ ha/ năm, tức là khoảng 700 kg chất hữu cơ, 30 kg N, 10 kg P2O5 và 10kg K2O.
 
3. Sự chuyển đổi các dưỡng chất thành các dạng khó tiêu (cây trồng không hấp thu được). Hiện tượng này chủ yếu xảy ra với nguyên tố P và một số nguyên tố vi lượng.
 
4. Sự bay hơi, đặc biệt là đối với chất đạm (N) có thể mất đến 50% ở ruộng lúa trong điều kiện pH và nhiệt độ cao.
 
5. Thấm xuống các lớp đất sâu khỏi vùng rễ, sự trực di do các dưỡng chất hoà tan và di chuyển theo nước xuống sâu. Thường xảy ra đối với các nguyên tố K, Mg, Ca, có khi cả B và N.
 
Do hiện tượng suy giảm độ phì đất xảy ra thường xuyên, cần phải bổ sung cho đất để duy trì sức sản xuất của đất và cây trồng.
 
II. Xác định nhu cầu và số lượng phân bón cần bón cho cây trồng
Để xác định nhu cầu dinh dưỡng và lượng phân bón cho cây trồng, có thể dựa vào lượng dinh dưỡng cây trồng lấy đi từ đất, và khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất canh tác (rất khác nhau tuỳ theo tình trạng độ phì đất). Trong thực tế, việc xác định lượng và loại phân cần bón cho cây có thể qua các phương pháp sau:
 
1. Chẩn đoán qua triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng
Dễ thực hiện (quan sát bằng mắt), thuận tiện, nhanh, không tốn kém, nhưng có bất lợi là thường khi trên cây xuất hiện triệu chứng thì tình trạng đã trở nên nghiêm trọng, có bón phân cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến năng suất cuối cùng của cây trồng. Ngoài ra các triệu chứng có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố khí hậu, sâu bệnh…
 
Ví dụ như triệu chứng thiếu đạm (N) thường là màu vàng của lá, nhất là các lá trưởng thành, cây bị còi cọc, kém phát triển, thiếu K (kali) cho thấy các lá mất màu chuyển sang xanh nhạt rồi vàng, các điểm khô màu nâu xuất hiện từ chóp và rìa lá dẫn đến khô bìa lá.
 
Phương pháp bón phân theo bảng so màu lá lúa để bón phân đạm cho lúa cao sản:Sử dụng bảng so màu lá lúa giúp nông dân hạn chế được việc bón thừa phân cho đồng ruộng, vừa tiết kiệm được chi phí đồng thời lại hạn chế được sâu bệnh tấn công, phá hại đồng ruộng.
 
Khi sử dụng bảng so màu lá lúa cần tuân thủ:
- Bón phân cho lúa lần 1 (trước khi cấy hoặc 7 – 10 ngày sau sạ) thường không cần sử dụng bảng so màu.
 
- 20 ngày sau sạ (hoặc 15 ngày sau khi cấy) bắt đầu so màu lá lúa và sau đó 2 - 3 ngày tiến hành so màu một lần để xác định đúng thời điểm bón phâm đạm cho cây lúa.
 
- 35 ngày sau khi sạ (30 ngày sau khi cấy) tiến hành lập lại những công việc như của 20 ngày sau khi sạ.
 
- Những lần bón phân kế tiếp chỉ nên bón khi màu lá lúa có trị số đo từ 2 – 3 của bảng.
 
Cách sử dụng:
Nên tiến hành so màu vào đúng thời gian (từ 8 – 10 giờ sáng hoặc 2 – 4 giờ chiều). Người tiến hành công tác so màu phải hướng lưng về phía mặt trời để bóng của người đó che mát cho lúa. Chú ý: Chỉ một người tiến hành so màu trong suốt vụ.
 
Chọn ngẫu nhiên ít nhất 20 lá lúa (lá cao nhất trong bụi) từ 4 – 5 vị trí khác nhau trong ruộng. So màu bằng cách đặt phần của lá lúa ở khoảng cách 1/3 hoặc 2/5 từ chóp lá lên từng khung màu trong bảng, không được tách đôi hoặc làm hư lá lúa. Ghi nhận số khung màu của từng lá rồi tính trị số trung bình của 20 lá đã được so.
 

Nếu trị số trung bình dưới khung màu chuẩn – khung số 3 đối với lúa sạ, khung số 4 đối với lúa cấy – (Bảng so màu lá lúa theo viện lúa quốc tế IRRI hiện nay có 6 cấp độ) là lúc lá lúa thiếu đạm thì nên bón phân theo liều lượng được khuyến cáo theo bảng dưới đây:

Bảng so màu lá lúa (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế - IRRI)
 
Tuy nhiên, tùy theo điều kiện khác nhau của từng vùng mà thời gian thực hiện việc so màu và bón phân đợt 2, đợt 3 có thể gia giảm sớm hoặc muộn hơn.
 
2. Phân tích đất

Nhằm đánh giá độ phì của đất, đất được lấy mẫu, đem phân tích và kết quả được xếp hạng – đánh giá: cao, trung bình, thấp đối với mỗi loại nguyên tố dinh dưỡng, từ đó khuyến cáo sử dụng phân bón như thế nào.

Tổng hợp đánh giá tình trạng các chất dinh dưỡng trong đất, căn cứ vào kết quả phân tích
 
Ghi chú:
   1 - Rất thấp/ nghèo
   2 - Thấp/ nghèo, rất cần bón phân
   3 - Trung bình, cần bón phân để duy trì
   4 - Cao, giàu, không cần bón phân
   5 - Rất cao, rất giàu
   (*) PP acetat amon.
 
3. Phân tích cây trồng: Phân tích toàn bộ hay bộ phận của cây (như mô lá). Kết quả phân tích sẽ được đối chiếu với các mức độ giới hạn (critical level) của mỗi nguyên tố dinh dưỡng để quyết định yêu cầu phân bón cho cây. Được sử dụng phổ biến trên một số cây trồng như cây họ cam quít, dừa, cao su...
 
Ví dụ: Đối với cây dừa, phân tích lá thứ 14 kể từ ngọn. Cây mía, phân tích lá thứ ba khi mía được 4 tháng tuổi. Cây lúa, phân tích lá đòng...
 
4. Thí nghiệm đồng ruộng: Các thí nghiệm đồng ruộng được tiến hành với các loại cây trồng khác nhau, và với các nghiệm thức phân bón đơn lẽ hay tổ hợp từ thấp đến cao, nhằm tìm ra công thức phân tối ưu cho một loại cây trồng nào đó tại địa điểm cụ thể. Từ nhiều thí nghiệm tiến hành trong nhiều năm, tại các địa điểm với điều kiện đất đai và khí hậu khác nhau trên mỗi loại cây trồng, từ đó rút ra qui luật chung tuy nhiên tốn thời gian và nhân sự, tốn tiền rất lớn.
 
Ví dụ: Thí nghiệm bón phân N cho cây bắp với mức từ 0 - 50 – 100 – 150 – 200 – 250 kg N/ ha, thí nghiệm phối hợp NPK…
 
III. Các loại phân bón
1. Phân vô cơ

Chúng có thể là các loại phân đơn (cung cấp một loại dinh dưỡng) như urea, sulphate amon (SA), chlorua kali (KCl); hay hỗn hợp (cung cấp ít nhất hai trong ba loại nguyên tố đa lượng NPK) như ammonium phosphate (DAP), potassium nitrate (KNO3), phân NPK (16 – 16 – 8, 20 – 15 – 10…). 

Thành phần hoá học và công thức một số loại phân vô cơ thường gặp
 
Ưu khuyết điểm của phân hỗn hợp:
- Phân hỗn hợp thường không bị đóng cục.
- Phân hỗn hợp thường khô, có cấu tạo hạt nhỏ và được trộn đều, do đó dễ bón bằng tay.
- Phân hỗn hợp thường chứa tất cả các dinh dưỡng chủ yếu với tỷ lệ phù hợp.
- Giúp nông dân tiết kiệm công trộn phân đơn.
- Nhưng phân hỗn hợp thường đắt hơn phân đơn.
- Có thể không phù hợp đối với một số đất canh tác: ví dụ như đối với đất chỉ thiếu N nhưng đủ K, thì lượng K trong phân hỗn hợp là không cần thiết.
 
Khuyến cáo phân bón
Các yếu tố cần lưu ý:
Loại cây trồng: Một số cây trồng cần lượng phân của một nguyên tố dinh dưỡng cụ thể nào đó hơn các loại khác. Ví dụ: rau ăn lá cần bón nhiều phân đạm (N), các loại cây lấy củ như khoai mì, khoai lang cần lượng kali cao.
 
Đặc tính đất: Đất thay đổi từ nơi này qua nơi khác, và độ phì đất luôn bị suy giảm nếu không được bón.
 
Điều kiện khí hậu: Đất trong vùng ít mưa bị mất ít dưỡng chất do rửa trôi hay trực di hơn đất trong vùng mưa nhiều.
 
Yếu tố kinh tế: Lượng phân bón được sử dụng thường tăng giảm với giá phân bón cao hay thấp. Giá nông sản cao sẽ cho hiệu suất đầu tư phân bón cao hơn.
 
Yếu tố quản lý: Các biện pháp đầu tư thâm canh, hay mong muốn đạt năng suất cao thường đều đòi hỏi phải tăng cường lượng phân bón.
 
Phương pháp bón phân
Nguyên tắc bón phân:  Phân bón phải được đặt trong vùng rễ, càng gần các rễ hấp thu năng động của cây trồng càng tốt. Lý do là các dưỡng chất hoà tan phân tán chủ yếu theo chiều thẳng đứng (lên xuống) và rất ít theo chiều ngang.
 
- Bón vãi (broadcasting): Thuận tiện, tốn ít công lao động, nhưng hiệu suất sử dụng phân bón kém. Thường áp dụng cho ruộng lúa, hoặc đối với cây trồng có rễ cây mọc cạn, cây trồng không theo hàng – như đậu xanh sạ, mè…
 
Một nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy khi bón vãi trên mặt đất, SA chỉ đạt hiệu suất 45.4%, urea đạt 34.8%, calcium super phosphate từ 7.0 – 14%. Trong khi đó sử dụng phân vo viên và đặt sâu vào vùng rễ cây lúa có thể giúp tăng năng suất khoảng 13.7% so với bón phân trên mặt đất.
- Bón qua lá (foliar application): Phân bón được hoà tan vào trong nước, sau đó được xịt lên cây. Thường được áp dụng khi cho các cây trồng hàng năm được trồng theo hàng như bắp, đậu, rau cải.
 
- Bón quanh gốc (ring application): Thường được áp dụng cho các cây trồng đa niên, phân được bón vào hố hoặc rãnh đào hình tròn và cách gốc cây một khoảng cách nơi rìa tán lá chiếu thẳng xuống, là nơi tập trung cao các rễ hút.
 
Ví dụ: Cách gốc 0.6 – 0.9m đối với cam quít, ca cao; 0.3m đối với đu đủ, 1.2 – 2.0m đối với dừa; hoặc ít nhất cũng cách gốc cây 0.5m.
 
Nếu tính theo thời gian bón, có 2 cách bón chính:
- Bón lót (base application): Bón trước khi gieo hạt – sau lần bừa cuối, hoặc cùng lúc với gieo hạt.
- Bón thúc (top-dressing): Bón khi cây đã phát triển, bằng cách rải theo hàng, hốc rãi đều hoặc xịt trên lá. Thường các lần bón thúc được kết hợp với làm cỏ xới xáo tạo điều kiện cho đất tơi xốp, rễ phát triển và diệt cỏ dại cạnh tranh với cây trồng.
 
 
2. Phân hữu cơ
Nói chung, các loại phân hữu cơ là nguồn cung cấp và tăng cường lượng chất hữu cơ cho đất, giúp gia tăng mùn và CEC của đất, cải thiện kết cấu và sự thấm nước của đất. Các loại phân hữu cơ không có tác dụng tức thời đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, nhất là trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao như ở Việt Nam, nó sẽ bị phân giải và khoáng hoá rất nhanh, nhưng sẽ có tác dụng lâu dài trong việc duy trì và cải tạo độ phì và các tính chất vật lý tốt của đất.
 
Các loại phân hữu cơ thường được bón ngay trước khi được cày vùi vào trong đất. Chúng có các dạng chính sau:
 
Phân chuồng (Farm manure): Bao gồm tất cả các chất thải của gia súc. Đó là một phụ phẩm bao gồm 2 phần rắn và lỏng với tỷ lệ 3:1. Trung bình, phân chuồng chứa 2 – 5% N, 1.5 – 3% P2O5 và 1 - 2% K2O trọng lượng khô. Phân chuồng có các đặc tính sau:
- Thành phần rất biến động.
- Lượng dưỡng chất thấp.
- Chứa nhiều nước.
- Không cân bằng về dinh dưỡng (có lượng P thấp).
- Có hiệu quả chậm.
- Chóng lên men.
- Thành phần thay đổi tuỳ theo loại gia súc. thực phẩm, cách bảo quản phân.
- Chứa lượng chất hữu cơ cao.
 
Phân chuồng cải thiện đặc tính lý học của đất qua việc gia tăng lượng mùn và khả năng giữ nước của đất, cũng như cải thiện cơ cấu đất nhiều sét.
 
Phân xanh (Green manure): Bao gồm các loại cây và cỏ họ đậu có khả năng cố định đạm để sản xuất lượng sinh khối xanh lớn, được cày vùi hay chôn vào đất trước khi ra hoa nhằm gia tăng lượng chất mùn, cải thiện cấu trúc đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng tiếp sau.
 
Các cây phân xanh thường được sử dụng là: điền thanh (Sesbania prostrate), sục sạc (Crotalaria juncea), bèo hoa dâu (Anabaena azollae)…
 
Phân ủ (Compost): Bao gồm tất cả các tàn dư hữu cơ hoặc hỗn hợp các chất, như than bùn, phân chuồng, tàn dư thực vật, được đặt trong một hố ủ, được tưới ẩm, và để cho hoai mục. Độ ẩm và thoáng khí của khối ủ được kiểm soát để mức độ hoai mục diễn ra tối đa. Trong kỹ thuật ủ phân, một tiến bộ kỹ thuật gần đây là việc bổ sung Trichoderma, một loại vi sinh vật giúp thúc đẩy sự hoai mục xảy ra chỉ trong khoảng 4 tuần thay vì 2 tháng như trước đây.
 
3. Bón vôi
Mục đích chính là điều chỉnh độ chua của đất khi đất quá chua (có pH thấp). Do pH lý tưởng cho đa số cây trồng nằm trong khoảng 6.0 - 6.5, nói chung cần bón vôi khi đất có pH < 5.
 

Lượng vôi cần bón để nâng lên tới giá trị mong muốn phụ thuộc vào pH khởi điểm của đất (trước khi bón) và sa cấu đất. Đất có pH ban đầu càng thấp và có lượng sét càng cao thì lượng vôi cần thiết để bón càng cao. Bảng dưới cho thấy mức độ vôi cần bón cho các loại đất khác nhau. 

Lượng phân vôi cần bón để nâng pH đất lên giá trị bằng 6 (A.D – UPLB, 1994)
 
Ngoài ra, bón vôi còn nhằm gia tăng độ hoà tan và hữu dụng của các nguyên tố dinh dưỡng khác cho cây trồng, giúp tập đoàn vi sinh vật đất hoạt động hữu hiệu hơn và cùng cấp nguyên tố Ca cho cây trồng (mục đích thứ yếu). Các vật liệu cung cấp vôi có thể là đá vôi (Calcium carbonat – CaCO3), vôi tôi (Calcium hydroxide – Ca(OH)2, vôi bột (Calcium oxide – CaO) và đá dolomite nghiền (CaCO3, MgCO3), đá apatit Lào Cai (36 – 38% P2O5).
 
Vôi tôi cần được trộn đều với lớp đất cày qua việc cày, bừa đất, do đó cần được áp dụng khoảng ít nhất 1 tháng trước khi trồng/ gieo hạt.
 
(Nguồn: VVS tham khảo và TH)
 
 
Tag:
Ý kiến bạn đọc

Hãy đăng nhập hoặc tạo tài khoản để gửi bình luận

Gửi

Có thể bạn chưa biết

10 loại trà dược chống mệt mỏi

Quế chi cam thảo trà rất tốt cho người lao động ngoài trời vào mùa đông; thủ ô ...

Tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới

Home Insurance Building là tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới ở thành phố ...

Nhà nông

Quản lý độ phì của đất và bón phân theo nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng

Dinh dưỡng cây trồng là một yếu tố đóng góp rất quan trọng vào việc tăng năng ...

Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái và bảo quản Gấc

Cây gấc có tên khoa học là Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng, thuộc họ ...

từ điển

Khoản đông hoa | Tussilago farfara

Khoản đông là một loại cỏ nhỏ, sống lâu do thân rễ. Nó mọc hoang dại tại những ...

Cây nắp ấm (Cây bắt ruồi, Bình nước, Trư lủng thảo) | Nepenthes mirabilis

Còn gọi là Trư lủng thảo, Trư tử lung (Trung Quốc), Bình nước (miền Trung và ...

giáo trình - tài liệu

Principles of Soil and Plant Water Relations - Kansas State University 2005

This textbook is developed from lectures for a graduate class in soil-plant- ...

Giáo trình Đánh giá tác động môi trường – VNUA 2008

Cuốn giáo trình Đánh giá tác động môi trường này được biên soạn để giảng dạy ...